""

Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

Bạn đang tìm hiểu về Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3?

Bài viết này EDUBOSTON sẽ giải thích tất cả những kiến thức về loài này

Video Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

Chúng tôi đang cập nhật
[ad_1]

Qua thực tế giảng dạy và trao đổi với đồng nghiệp, tôi nhận thấy:

– Học sinh giải bài toán đố thường rất chậm so với các dạng bài tập khác.

– Các em thường lúng túng khi đưa ra lời giải cho các phép tính. Có nhiều em tính toán chính xác và nhanh nhưng không tìm được cách giải thích hợp hoặc đưa ra cách giải không phù hợp với đề toán.

– Dạy học sinh nêu lời giải khó hơn nhiều so với dạy các em thực hiện các phép tính để tìm ra đáp số.

– Học sinh lớp 3 còn gặp khó khăn trong việc đọc hiểu đề do trình độ thấp, đọc đề toán còn thụ động, hiểu đề còn chậm … Có em chỉ đọc được đề toán nhưng không hiểu đề, không trả lời được. câu hỏi GV: Bài toán cho biết gì? Chúng ta nên tìm kiếm những gì?

Tìm hiểu mức độ của học sinh khi giải toán bằng chữ

Học sinh đã học giải bài tập văn ở lớp 1 và lớp 2. Giáo viên nên làm bài kiểm tra để đánh giá mức độ giải quyết vấn đề bằng miệng của học sinh khi học sinh bắt đầu Lớp 3. Kinh nghiệm Nếu bạn đã trực tiếp làm điều này, bạn có thể thấy bốn cấp độ trong lớp.

Mức độ tồi tệ: – Đây là những học sinh chưa xác định được dạng toán, không hiểu quy trình các bước giải và không hiểu những gì mình đã biết và cần tìm bài toán, không hiểu các thuật ngữ toán học.

Cấp độ 1: đây là những học sinh chưa nắm chắc các bước giải, nhất là việc tìm hiểu nội dung bài toán, định nghĩa toán, phân tích đề,… gặp khó khăn.

Cấp độ 2: đây là những học sinh chủ yếu bao quát quá trình giải toán bằng lời, nhưng trong quá trình thao tác còn sai sót (lỗi kĩ thuật) nên kết quả thấp.

Cấp 3: đây là những học sinh nắm chắc quy trình giải toán bằng lời.

Sau đây là kết quả đánh giá học sinh lớp 3B trường TH số 1 Ba Đồn đầu năm học 2015 – 2016:

Mức độ giải toán bằng lời của học sinhMức độ giải toán bằng lời của học sinh

Giải pháp rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

1. Chia sẻ với bố mẹ:

– Trao đổi với phụ huynh những thuận lợi, khó khăn mà trẻ còn mắc phải, ví dụ: học sinh chưa biết cách nhận biết dạng toán, chưa có kĩ năng tìm hiểu mối quan hệ giữa cái cho và cái cần tìm, một số học sinh đã làm được. các bước một cách chính xác, nhưng kết quả tính toán không chính xác.

– Trao đổi với phụ huynh học sinh về mục tiêu của lớp và những yêu cầu cần thiết để giúp các em học tập, ví dụ: mua đủ sách vở, đồ dùng, cách dạy các em học ở nhà, dành thời gian nhắc nhở, quan tâm các em học tập. …

– Giải đáp những thắc mắc của cha mẹ về cách dạy con. Trong sách giáo khoa mới có nhiều ký hiệu, câu lệnh, yêu cầu của sách, phụ huynh chưa nắm rõ yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, trong phần bài tập của sách giáo khoa toán, tôi hướng dẫn các bậc phụ huynh cách dạy con làm bài toán bằng miệng, luyện đàm thoại và trả lời các câu hỏi thông thường.

2. Chuẩn bị để giải toán:

– Giáo viên phải có thiết kế rõ ràng, cụ thể, điều này sẽ quyết định phần lớn đến chất lượng giờ dạy, đồng thời giáo viên là người tổ chức, chủ trì thiết kế cho từng đối tượng học sinh trong lớp.

– Giáo viên thường xuyên hướng dẫn học sinh giải theo quy trình: Cho học sinh đọc và hiểu đề> Yêu cầu học sinh tóm tắt đề (Bài toán cho biết gì? Bài toán cho biết gì?)> Đặt câu hỏi để phân tích đề> Đặt câu hỏi để lập kế hoạch giải pháp.

– Mục đích giúp học sinh nắm được các dạng toán cơ bản trong học kì I như:

+ Tìm một trong các phần bằng nhau của số đó.

+ Nhân số lượng nhiều lần.

+ Giảm số đi vài lần.

+ Bài toán được giải bằng hai phép tính …

– Giúp HS trình bày lời giải theo thứ tự: Lời giải, phép tính, đáp số.

3. Những gì bạn nên chú ý:

– Để giúp học sinh học giải toán, chúng ta không chỉ dẫn dắt học sinh vào bài toán mà một yếu tố không kém phần quan trọng là để thực hành kỹ năng nói trong giờ học.

– Các em đã là học sinh lớp 3, nhưng còn rụt rè trong giao tiếp. Vì vậy, để các em mạnh dạn, tự tin trong khi trò chuyện và trả lời, giáo viên cần: luôn bên cạnh, động viên các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi mang tính giáo dục, trao đổi, luyện tập nhiều trong đàm thoại. Giờ học tiếng Việt giúp trẻ luân chuyển vốn từ vựng; Trong giờ học, học sinh có thể nhận xét và phản hồi một cách tự nhiên và nhanh chóng, không sợ hãi, tự ti.

– Ngoài ra, giáo viên cần quan tâm hơn đến kĩ năng đọc của học sinh: đọc nhanh, đúng, nhanh, đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu yêu cầu của bài tập.

4. Các bước học tập của học sinh:

– Giúp học sinh hiểu nội dung bài toán, hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề bài: Tìm các yếu tố phi toán học trong bài toán, nội dung văn bản có yếu tố toán học và xác định dạng bài. toán học (Ví dụ: Số lần nhỏ hơn …). Qua đó giúp học sinh dễ dàng tiếp cận nội dung nhiệm vụ văn bản.

– Giúp học sinh tóm tắt bài toán: ở bước này học sinh nên tự tóm tắt bài toán. Chỉ khi đó học sinh mới có thể thiết lập các yếu tố toán học của bài toán và mối quan hệ giữa các điều kiện đã cho và điều kiện cần tìm. Giáo viên cần phân tích rõ ràng cho học sinh khi các em tóm tắt sai, chưa đầy đủ.

– Hỗ trợ giải và tính toán là nội dung quan trọng nhất trong quá trình giải toán. Chỉ khi nhận thức đầy đủ các bước tiếp theo, học sinh mới có thể thực hiện tốt các quyết định và tính toán. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh từng cách giải, tính toán là bước hợp lí để thực hiện phương án giải bài tập.

– Để củng cố tốt cho học sinh, ngoài các ví dụ trong SGK, giáo viên nên có những nhiệm vụ tương tự (không khó hơn) để học sinh rèn luyện thêm cách giải, từ đó có nhận thức vững vàng và tự tin hơn. .

5. Ví dụ trực quan

Ví dụ 1. (Bài 4 trang 56) Có ba thùng dầu, mỗi thùng 125 lít, trong đó người ta chiết ra 185 lít dầu. Hỏi còn lại bao nhiêu lít dầu?

Trước hết, cần thiết kế một quy trình thống nhất để giải quyết vấn đề:

– Phương án giải: Tìm số dầu trong cả 3 thùng → Tìm số dầu còn lại.

– Đây là trình tự thực hiện đúng tuần tự của phương án giải đã phân tích: đầu tiên tính tổng lượng dầu> tìm lượng dầu còn lại. Nếu bạn đi sai trình tự, vấn đề không thể được giải quyết.

– Căn cứ kế hoạch quyết định thực hiện:

+ Đặt lời giải thứ nhất: Số dầu trong 3 thùng:

Sau đó viết phép tính: 125 x 3 = 375 (l)

+ Cài đặt dung dịch thứ hai: Dầu còn lại:

Sau đó viết phép tính: 375 – 185 = 190 (l)

Bằng cách này, học sinh sẽ thiết lập mối liên hệ giữa lời giải và phép tính. Đây là một yêu cầu cơ bản khi thực hiện một bài thuyết trình giải quyết vấn đề bằng văn bản.

Thực hiện theo kế hoạch trong bài:

– Cần đặt câu hỏi gợi ý để học sinh nhận ra trong bài toán có bài văn chứa yếu tố toán học, bài văn nào không chứa yếu tố toán học. Tạo điều kiện cho học sinh nhận thức vững vàng nội dung bài toán. Sau khi hiểu nội dung của bài toán, học sinh có khả năng loại bỏ các yếu tố không phải toán học để hiểu bản chất (phép nhân) của bài toán, tóm tắt bài toán dưới các hình thức thích hợp:

– Mời HS tóm tắt bài toán:

+ Bài toán nào nói trước? 3 thùng mỗi thùng 125 lít.

+ Bài toán còn nói lên điều gì nữa? Đã lấy: 185 lít

+ Nhiệm vụ yêu cầu gì? Dầu cặn. Ngoài ra: … l?

Hướng dẫn học sinh giải bài toán trên: Giáo viên nêu câu hỏi

+ Muốn biết còn lại bao nhiêu lít dầu trước hết chúng ta cần biết điều gì? Số lượng dầu gốc (tổng số dầu 3 thùng).

+ Muốn tìm số dầu trong 3 thùng ta làm thế nào? 125 x 3 = 375 (l)

+ Bạn có tổng số dầu rồi muốn tìm số dầu còn lại ta làm như thế nào? 375 – 185 = 190 (l)

Như vậy, với các phương pháp trên, giáo viên giúp học sinh tư duy, động não, suy nghĩ độc lập, dần dần tạo ở học sinh phương pháp học tập và ghi nhớ. Đặc biệt là khơi dậy hứng thú khám phá sáng tạo của học sinh trong học giải toán bằng lời văn.

Chú ý phân tích rõ ràng cho học sinh

– Xác định cơ sở để đưa ra giải pháp:

+ Dựa vào câu hỏi bài toán.

+ Dựa vào phương án để giải quyết vấn đề.

+ Tìm dữ liệu không xác định hoặc kết quả tìm kiếm dựa trên truy vấn.

– Những dữ kiện chưa biết phải được tìm ra để trả lời câu hỏi cuối cùng của bài toán hay nói cách khác là tìm kiếm câu trả lời cuối cùng.

– Nội dung của quyết định mô tả một cách định tính mục đích của việc tính toán.

Học sinh khối 3 phát triển khái quát sơ cấp. Vì vậy, việc tìm phép tính để tìm lời giải là hợp lý của tư duy khoa học.

Ví dụ 2. (Bài 3 trang 58) Ở thửa ruộng thứ nhất thu hoạch được 127 kg cà chua, ở thửa ruộng thứ hai nhiều gấp ba lần số cà chua ở thửa ruộng thứ nhất. Hỏi cả hai ruộng thu hoạch được bao nhiêu ki-lô-gam cà chua?

Các bước thực hiện trong bài học

– Yêu cầu học sinh đọc kĩ văn bản. Tóm tắt vấn đề bằng cách vẽ sơ đồ hoặc tóm tắt bằng lời giải. Học sinh có thể thực hiện các thao tác sau:

Sơ yếu lý lịch:

Lĩnh vực đầu tiên: 127 kg

Trường thứ hai: ba

Cả hai: …… kg?

– Cách 1: Quyết định

Số ki-lô-gam cà chua thu được từ ruộng thứ hai:

127 x 3 = 381 (kg)

Số ki-lô-gam cà chua thu được của cả hai ruộng là:

127 + 381 = 508 (kg)

Đáp lại: 508 kg.

Giáo viên giới thiệu cho học sinh dạng toán: toán học là gì? (nhân một số rồi tìm tổng của hai số đó).

– Cách 2: Nhìn vào kết quả, tôi có các cách giải quyết sau:

Quyết định

Số ki-lô-gam cà chua thu được của cả hai ruộng là:

127 x 3 + 127 = 508 (kg)

Đáp lại: 508 kg.

– Qua hai cách giải, giáo viên giải thích cho học sinh hiểu: thực ra cách 2 cũng là cách 1 nhưng gộp hai phép tính thành một phép tính.

– GV có thể yêu cầu HS tóm tắt lược đồ tuyến tính và tìm cách giải khác. Giáo viên nhận xét cho học sinh:

+ Số quả cà chua ở ô thứ nhất cho biết bao nhiêu phần? (1 phần)

+ Số quả cà chua ở ô thứ hai cho biết bao nhiêu phần? (3 phần)

+ Cho biết số quả cà chua ở cả hai ruộng bằng bao nhiêu phần? (4 phần)

Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3

– GV: Nhìn sơ đồ, tìm cách giải khác. Từ đây học sinh có các giải pháp khác:

Quyết định

Tổng số phần bằng nhau bằng:

1 + 3 = 4 (phần)

Số ki-lô-gam cà chua thu được của cả hai ruộng là:

127 x 4 = 508 (kg)

Đáp lại: 508 kg.

– Giáo viên cần nhắc nhở học sinh: ở mỗi bước giải học sinh cần chú ý đến tên đơn vị của từng phép tính. Từ đó giúp học sinh nắm chắc bài toán, hiểu cặn kẽ bài toán, tìm ra nhiều cách giải khác nhau giúp học sinh phát triển tư duy toàn diện.

Sự kết luận

Trong quá trình giảng dạy, mỗi người giáo viên chúng ta phải suy nghĩ để tự xác định xem mình cần phải làm gì để truyền thụ kiến ​​thức chất lượng và kỹ năng thực hành cho học sinh một cách hiệu quả hơn. Các hành động trên chỉ là nghiên cứu và ý kiến, cũng như những gì tác giả đã làm với kết quả tốt. Trước khi dừng bài viết, tác giả muốn chia sẻ những điều tôi cho là quan trọng:

– Dạy giải toán có lời cho học sinh là phương pháp dạy học có tư duy khoa học, hệ thống kiến ​​thức trong giờ học.

– Dạy toán bằng lời nói của học sinh cần theo dõi quá trình và hệ thống nhận thức khoa học. Tập trung vào phân tích vấn đề giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa các dữ liệu trong một bài toán, từ đó nhận ra kiến ​​thức mà các em cần sử dụng để giải quyết vấn đề.

– Dạy toán có lời văn nhằm mục đích cuối cùng – giúp học sinh đưa ra quyết định đúng đắn, phép tính đúng dẫn đến kết quả đúng.



[ad_2]

Trên là bài viết liên quan về Rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3, Hy vọng qua bài viết này bạn sẽ có kiến thức về cá tốt hơn

Viết một bình luận